CHUYỆN HOA CÂY CẢNH NGÀY XUÂN VỚI NGƯỜI THĂNG LONG THANH LỊCH XƯA

0
18

GS. Đặng Cảnh Khanh

          Người Việt xưa coi hạnh phúc không chỉ là sự sang giàu, là gấm vóc lụa là chất đầy trong rương, trong hòm mà là sự cân bằng giữa việc sống no đủ với sống ấm áp trong quan hệ gia đình, hàng họ, xóm giềng, cộng đồng…Bởi lẽ đó mà trong đời sống, dặc niệt là ngày Tết, người ta không chỉ cầu có đủ gạo thóc, rau quả, chữ nghĩa, sách vở mà còn luôn cần có cả vườn tược xanh tốt, chim hót quanh nhà, hoa cỏ nhuận sắc…

          Chúng ta hãy đọc thử một đoạn văn trong sách “Vũ trung tùy bút” mà ông Tùng Hiên Phạm Đình Hổ, miêu tả về cuộc sống của một gia đình giới trung lưu người Việt thời vua Lê, chúa Trịnh quanh căn nhà đạm bạc thuở ấu thơ của ông: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương. Trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài trượng, lúc nở hoa, trắng xóa thơm lừng, trước nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp…Nhà trung đường có bảy gian. Tọa đông hướng tây, vốn là chính tẩm của đấng tiên đại phu ta ở trước. Phía tây là máng nước tiếp với nhà khách năm gian, trước mặt trông xuống cái ao vuông. Trong ao thả sen trắng, chung quanh bờ trồng thanh liễu và cam quýt. Cách nhà khách năm sáu bước, lại chắn ngang một rặng rào trúc, từ phía ngang nhà trung đường đến bờ ao phía tây, phía bắc thì dựng một cái bình phong che khuất đi. Phía đông ao giáp sân nhà khách, có trồng năm cây hoa nhài, hoa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn… Tối đến lúc mặt trăng mới mọc, đi tản bộ quanh bờ ao, ngâm nga mấy câu Đường thi cũng thú, hoặc tựa gốc dừa, cành hoa phất phơ trước mặt, ngồi bẻ bông tước thử chơi. Khi thẩn thơ trở về nhà khách thì bóng nguyệt hương hoa vẫn còn phảng phất trên án thư, tràng kỷ. Ta thức đến gà gáy mới đi ngủ.”[1]

          Đọc đoạn văn trên, ta thấy rõ cảm xúc của người xưa đối với thiên nhiên cây cỏ, hoa lá gần gũi thân thiết và thanh cao như thế nào. Nó đã trở thành một phần không thể tách rời của cuộc sống thường ngày. Nguyễn Huy Lượng trong “Tụng Tây Hồ Phú”, đã miêu tả cảnh Tây Hồ chốn Thăng Long thật đẹp, hòa quyện gắn bó giữa cảnh vật và con người

          Gió hiu hiu dòng Nhị Thủy đưa lên, lồng hơi mát tới chùm hoa, khóm trúc,           

          Trăng vằng vặc mái Tam Sơn rọi xuống, đớp bóng trong từng lũ cá, đàn cò

          Phạm Đình Hổ thậm chí còn cho rằng, người ta đạt được lợi lộc đã khó nhưng đạt tới sự khoáng đạt trong cảm thụ hoa lá, cỏ cây còn khó hơn rất nhiều: “cái vui về non nước, bè bạn về tạo vật chưa dễ đã đến được để mọi người được hưởng, mà có phần lại khó hơn cả lợi lộc, vinh danh”[2]

          Vào thế kỷ XVIII, chốn Thăng Long, đâu đâu cũng nuôi sinh vật cảnh, trồng cây đẹp, hoa thơm. Sách vở vào thời kỳ đó đã miêu tả rất rõ không khí sống gần gũi thiên nhiên, làm non bộ, trồng hoa, chơi cây cảnh của cư dân Thăng Long, cảnh chúa Trịnh chuyển cây to, đá đẹp từ bên kia sông Hồng về Thăng Long, cảnh thuyền rồng đi du ngoạn Tây Hồ, cảnh quan lại đêm đêm vào kinh thành để cướp những cây cảnh đẹp trong thành phố, mang về tư dinh…

          Phạm Đình Hổ viết :“ Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại bốn người đi kèm, đều cầm gươm đánh thanh la, đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay. Trong phủ, tùy chỗ điểm xuyết, bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể, đầu non…”[3]

          Trong bối cảnh đó, ở Thăng Long, mỗi khi gặp đêm trăng thanh, gió mát, khắp kinh thành Thăng long, “tiếng chim kêu vượn hót râm ran khắp bốn bề”. Thế rồi cũng có những đêm, bỗng nhiên phường khóm lại ào ào như có “trận mưa sa, gió táp, vỡ tổ tan đàn”. Đó là lúc bọn quan lại trong thành tràn ra ngoài, đe dọa cướp bóc, “dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay thì biên hai chữ “phụng thử” vào, đêm đến, trèo qua tường thành ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi rồi còn buộc cho tội đã đem dấu những vật cung phụng để dọa lấy tiền. Hòn đá, cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà, hủy tường để khiêng ra…”[4]. Trong bối cảnh đó nhiều nhà khá giả, nếu không phải bỏ tiền chạy trọt thì cũng phải đập non bộ, phá cây cảnh để tránh bị nhõng nhẽo…

          Đọc những đoạn phân tích như trên của cổ nhân ta càng thấy rõ trong những các di sản văn hóa tinh thần của người xưa thì hoa lá, chim muông và cây cảnh có giá trị cao siêu như thế nào? Họ chú ý từ cách thức tìm kiếm, ươm trồng, nâng niu, chăm bón, cắt tỉa, cho đến sự tỷ mỉ, nhạy bén trong thưởng ngoạn, cảm thụ một cách đầy tinh tế và thanh cao.

          Chơi hoa và chơi cây xưa cũng đã có cả những quy tắc thẩm mỹ, những chuẩn ước mà sự tinh tế của nó đòi hỏi phải có một trình độ am hiểu và cảm thụ rất cao thì mới cảm nhận được. Đây là điều mà không phải người nào cũng có. Những kẻ “phàm phu tục tử” có thể bỏ tiền mua nhiều cây quý, làm nhiều hòn non bộ cầu kỳ đắt tiền nhưng vẫn chẳng thể cảm nhận được sự sâu lắng, giản dị của một không gian đầm ấm “khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”.

          Chúng ta hãy xem cụ Phạm Đình Hổ diễn tả về cách chơi hoa thanh cao và tinh tế của một người bạn ông ở Thăng Long khi đó như sau : “Khoảng năm Ất mão, Bính Thìn (1795-1796) ta có vào chơi một nhà anh em bạn, khi vào đến cửa, ngửi thấy một mùi thơm sực nức hình như hương hoa lan, mà lại có phần thanh hơn, vẫn không ngờ là thứ lan ngọc quế. Đến khi vào nhà khách, mới thấy thứ lan ấy vừa nở, mà trồng vào trong cái chậu vỡ, đất sỏi, để ở góc hè, cành lá lơ thơ, dài chỉ độ năm sáu tấc, hoa nhỏ mà cánh mỏng, sắc rất đạm nhưng hương thơm ngát. Ta vừa được thưởng thức mùi hương thiên nhiên ấy, liền khen là khéo trồng thì chủ nhân bẽn lẽn nói rằng không có lúc nào bón tưới cả”[5].

          Ở đây ta nên chú ý đến sự tinh tế trong cách chơi hoa của người Thăng Long khi đó, hoa quý nhưng lại chỉ trồng trong “cái chậu vỡ, đất sỏi, để đầu nhà”, đồng thời cũng chỉ cần “hoa nhỏ mà cánh mỏng, sắc rất đạm nhưng hương thơm ngát”. Cách chơi sâu lắng này khiến ta nghĩ đến truyền thuyết về công chúa Thiều Hoa con gái của vua Hùng, đến dự một lễ hội đầy hoa thơm, bướm lạ, muôn màu muôn vẻ nhưng lại chỉ quan tâm đến một con bướm nâu buồn bã nơi góc vườn, để rồi sau này chính nàng bướm nâu bình dị ấy lại nhả ra những sợi tơ vàng óng dệt nên trăm nghìn mảnh lụa quý.

          Phạm Đình Hổ cũng phê phán những kẻ hợm mình, không hiểu biết gì về sự chơi hoa tinh tế này: “Ta mới hay người đời chơi lan chỉ biết thưởng thức bằng mắt, chứ không biết thưởng thức bằng mũi, chỉ biết được cái hình của hoa, chứ không biết được cái thần của hoa. Chậu sành nào phải nơi sơn cốc, phường phố nào phải chốn thôn quê, thế mà hoa lan trồng được ở nơi u tĩnh thì đã phát ra kỳ hương như thế.[6]

          Tình yêu với hoa lá, suy cho cùng chính là tình yêu với con người. Bởi vì dẫu thế nào thì cuối cùng, con người vẫn là trung tâm của cảnh quan môi trường. Hoa, cây cảnh chỉ có giá trị như một tài sản văn hóa khi nó hiện diện trong nhận thức, hành vi và cuộc sống của con người bởi vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nhà thơ nổi tiếng thời Lê là Ngô Thì Sĩ cũng đã từng viết :

  Càn khôn nguyên tự xảo

  Nhân cảnh chính tương tu

(Xếp đặt khéo là do trời đất

Nhưng điểm tô cho nó đẹp chính là nhờ có con người)

          Đây chính là nguyên tắc cơ bản của người xưa trong thú chơi hoa, cây cảnh ngày xuân. Nguyễn Giản Thanh, một trong những vị trạng nguyên trẻ tuổi vừa tài năng vừa hào hoa, người mà dân gian gọi bằng cái tên rất dân dã là Trạng Me đã viết “ Phụng thành xuân sắc phú” , miêu tả rất rõ về ngày xuân Thăng Long bằng một thứ ngôn ngữ thật sống động.

 Chợ Hòe đầm ấm

 Phố Ngọc tần vần

 Trai lanh lẹ đá cầu vén áo

 Gái éo le rủ yếm dôi quần

 Khách Trường An cưỡi ngựa xem hoa, rợp đường tử mạch

 Chàng công tử ngựa xe trương tán, rạng mực thanh vân

          Nếu không có một tình yêu thiết tha, cộng với một sự lãng mạn tinh tế với những cỏ cây hoa lá và con người trong chốn đô hội Thăng Long, thì rõ ràng không thể viết được những câu thơ tuyệt tác để tả đám “trai thanh nữ tú” của Thăng Long như  “trai lanh lẹ đá cầu vén áo, gái éo le rủ yếm dôi quần”…Có lẽ nhờ có sự miêu tả tươi tắn, trẻ trung nói trên, mà dường như cho đến nay chúng ta khó tìm thấy một tác phẩm cổ xưa nào sánh được với “Phụng thành xuân sắc phú” về việc diễn tả đầy đủ sự hồn nhiên của trai gái Thăng Long với cảnh quan hoa lá.

          Đến Phạm Huy Lượng trong “Tụng Tây Hồ Phú” thì cùng với vẻ hồn nhiên trong lao động của tuổi trẻ, chúng ta cũng cảm nhận được những nét buồn sâu lắng của thiên nhiên :

Bến giặt tơ, người vốc nước còn khua,

gương thiềm đựng trong tay lóng lánh

Vườn hái nhị người giày sương hãy sớm,

túi xạ rơi dưới gót thơm tho.

          Tình yêu và cảm xúc của người Thăng Long xưa thường được dựa trên một nền tảng chuẩn mực được gọi là “Thư hoa nhân ái” , lấy sách vở và cỏ cây hoa lá, lấy tình yêu thương với con người làm nguồn cảm hứng và say mê . Cũng là một cảnh hoa đào nở vào dịp mùa xuân thôi, mà vận vào mình, vận vào người, chàng trai trẻ Phạm Đình Hổ, bằng ngòi bút với vẻ ngoài hồn nhiên nhưng lại khiến cho người đọc phải buồn đến tê tái :

Khứ tuế đào hoa phát

Lân nữ sơ học kê

Kim tuế đào hoa phát

Dĩ giá lân gia tê

 

Khứ tuế đào hoa phát

Xuân phong hà khê khê

Kim tuế đào hoa phát

Lân nữ đối hoa khấp

 

(Năm ngoái hoa đào nở

Cô láng giềng mới học cài trâm

Năm nay hoa đào nở

Đã gả cho gã đàn ông bên xóm tây

 

Năm ngoái hoa đào nở

Gió xuân sao lạnh lùng

Năm nay hoa đào nở

Cô láng giềng nhìn hoa mà khóc)

          Sự tinh tế của bài thơ thật không có lời nào để bình phẩm thêm được nữa, chỉ có điều chính nó là sự tinh tế và rung cảm mang đầy chất Thăng Long  của một chàng trai rất Thăng long xưa.

          Đọc Phạm Đình Hổ tới đoạn trồng hoa trên chậu vỡ tôi mới hiểu được tại sao khi đi cùng với một bậc trí giả cao niên người Hà Nội đến chọn mua hoa ngày Tết, tôi thấy ông mua nguyên cả bó, trả tiền xong nhưng lại chỉ lặng lẽ chọn lấy ba bông đẹp, mảnh mai và rất nhỏ, nhờ bó vào một tấm giấy bóng kính trong suốt. Còn lại, cả hoa và đống giấy màu lòe loẹt cùng những sơi dây kim tuyến óng ánh, ông bỏ lại không thương tiếc… Âu cũng là cái cách để cảm nhận được điều mà Phạm Đình Hổ gọi “cái thần của hoa” vậy.

          Ngày nay, trong nhịp độ phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại, đời sống văn hóa tinh thần của xã hội được nâng cao, những giá trị truyền thống của dân tộc trong việc sống gắn kết với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá đã khiến tâm hồn con người ngày càng trở nên thanh cao, khoáng đạt hơn, con người ngày càng nhân ái và hạnh phúc hơn.

          Nghề trồng hoa và cây cảnh đang được trả lại với những giá trị đích thực của nó cả về mặt vật chất và tinh thần. Chính sự phát triển của hoa và cây cảnh như một ngành kinh tế sinh thái đã khiến cho môi trường của xã hội hiện đại sẽ không chỉ là những khối sắt thép, xi măng khuôn cứng, mà còn làm cho con người ngày càng trở lại với bản chất tự nhiên vốn có của nó, thân thiện, nhân văn và thanh cao hơn.

[1] Phạm Đình Hổ, Vũ Trung Tùy Bút. NXB văn Học 2001. Trang 11, 12.

[2] Phạm Đình Hổ. sách đã dẫn, trang 42

[3] Phạm Đình Hổ. sách đã dẫn, trang 14.

[4] Phạm Đình Hổ. sách đã dẫn, trang 14

[5] Phạm Đình Hổ. Sách đã dẫn Trang 29

[6] Phạm đình Hổ. Sách đã dẫn trang 29

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây